Phòng chống đuối nước đối với trẻ em: Tầm quan trọng của phương pháp tiếp cận dựa trên bằng chứng

by | May 28, 2020 | BlogVN | 0 comments

Với 2000 trường hợp trẻ em thiệt mạng vì đuối nước trong một năm tại Việt Nam, công tác phòng chống đuối nước là điều vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, các biện pháp can thiệp dựa trên những bằng chứng thực tế (phương pháp thực chứng) và an toàn cũng rất quan trọng nhằm đảo bảo tính hiệu quả đồng thời không được gây nguy hiểm cho trẻ em.

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại Việt Nam. Hàng năm, Việt Nam có khoảng 2000 trẻ em đuối nước – cao nhất trong các quốc gia Đông Nam Á. Ở quy mô toàn cầu, thì Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mô tả đuối nước là một “cơn dịch bệnh vô hình”, khi nó gây ra 400,000 trường hợp tử vong hàng năm.

Vào năm 2014, WHO đã phát hành số đầu tiên của “Báo cáo về tình hình đuối nước trên toàn cầu“. Sau đó vào năm 2016, tài liệu hướng dẫn triển khai phòng chống đuối nước đã đề xuất 6 biện pháp can thiệp và 4 chiến lược phòng chống đuối nước.

Các biện pháp can thiệt:

  • Lắp đặt rào chắn để kiểm soát việc trẻ tiếp cận nguồn nước
  • Tạo môi trường an toàn (Ví dụ: trung tâm chăm sóc trẻ em vào ban ngày) và cách xa nguồn nước đối với trẻ em ở lứa tuổi mầm non cũng như có đủ nguồn nhân lực phù hợp để chăm sóc cho trẻ
  • Dạy các kĩ năng về bơi lội và đảm bảo an toàn tại môi trường nước cho trẻ em ở lứa tuổi tiểu học
  • Đào tạo cho người dân các kĩ năng về cứu hộ và sơ/cấp cứu
  • Xây dựng và thực thi các quy định về an toàn như tàu, thuyền và phà
  • Xây dựng năng lực chống chịu và quản lí rủi ro cũng như các hiểm họa khác ở cấp độ địa phương và quốc gia

Các chiến lược:

  • Tăng cường truyền thông để nâng cao nhận thức cho cộng đồng về đuối nước
  • Tăng cường hợp tác đa ngành
  • Xây dựng kế hoạch quốc gia về an toàn trong môi trường nước
  • Tăng cường can thiệp phòng chống đuối nước thông qua việc thu thập số liệu và nghiên cứu được thiết kế chặt chẽ

Tại sao phải dạy các kĩ năng về bơi lội và đảm bảo an toàn tại môi trường nước cho trẻ em ở lứa tuổi tiểu học?

Tại Việt Nam, tử vong do đuối nước chiếm tỷ trọng cao nhất ở lứa tuổi tiểu học. Vì vậy, có rất nhiều chương trình phòng chống đuối nước uy tín được chính phủ cũng như các nguồn lực quốc tế hỗ trợ đã chung tay khuyến khích công tác ” dạy về bơi và kĩ năng đảm bảo an toàn tại môi trường nước mở cho trẻ em ở độ tuổi tiểu học”. Đây là chương trình được xây dựng theo phương pháp thực chứng và tập trung vào những kĩ năng cốt lõi mà Tài liệu hướng dẫn triển khai của WHO đã đề cập đến.

Nền tảng cho phương pháp can thiệp này phần lớn đến từ SwimSafe – một chương trình đang được thực hiện tại Bangladesh, chương trình này đã đào tạo cho hơn 525,000 trẻ em. Thông qua chương trình, các em sẽ được học những kĩ năng bơi để sống sót, các kiến thức về an toàn tại môi trường nước cũng như các phương pháp cứu hộ an toàn. Một cuộc đánh giá được tiến hành năm 2010 trên 84,000 trẻ tham gia chương trình SwimSafe, đã chỉ ra rằng không có trường hợp nào trong nhóm này bị đuối nước sau khi hoàn thành chương trình. Một cuộc nghiên cứu khác được tiến hành trên 109,668 trẻ đã chỉ ra rằng SwimSafe chính là biện pháp an toàn trong việc phòng chống đuối nước. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng trẻ em sau khi hoàn thành chương trình SwimSafe có nguy cơ đuối nước thấp hơn đến 96% so với những trẻ không tham gia SwimSafe (RR 0.46; 95% CI 0.037 -0.071). Điều quan trọng hơn là một nghiên cứu được thực hiện ngay sau đó cũng đã chỉ ra rằng chương trình SwimSafe không hề gia tăng tỉ lệ tiếp xúc hay các hành vi có tính nguy hiểm tại môi trường nước.

Theo đó, dựa trên phương pháp thực chứng này, chương trình Bơi An toàn của Hue Help cũng đã đào tạo các kĩ năng tương tự qua 18 bài học. Cho đến nay, chương trình đã đào tạo các kĩ năng thiết yếu về đảm bảo an toàn cho gần 500 giáo viên và 11,000 trẻ tại Việt Nam. Theo như Quyết định số 234 năm 2016 của Thủ tướng về phòng chống thương tích trẻ em, một số tổ chức tại Việt Nam cũng đã thực hiện giảng dạy các nội dung thực hành, các lớp học bơi để sống sót dựa trên phương pháp thực chứng.

Một số vấn đề mà chúng tôi không ủng hộ phương pháp “chống chết chìm”

“Chống chết chìm” (tên tiếng Anh: drown proofing) là tên gọi của một kĩ thuật dạy bơi được triển khai vào những năm 1960 tại Hoa Kỳ. Với kĩ thuật này, học viên sẽ duy trì tư thế đứng thẳng người ở dưới nước, hít vào khi đầu ngoi lên khỏi mặt nước trước khi chìm xuống nước và tiếp tục trồi lên mặt nước để thường xuyên hít thở.

Chúng tôi quan sát thấy kĩ thuật này được sử dụng ở Việt Nam trong môi trường học đường – các học sinh được dạy về kĩ thuật “chống chết chìm” trong các thùng nước!

Có một số vấn đề cần lưu ý đối với phương pháp “chống chết chìm”:

  • Phương pháp này được phát triển vào năm 1938 theo yêu cầu của Hải quân Hoa Kỳ. Phương pháp này được ra đời tại trường Đại học Kỹ thuật Georgia, nhưng đã hiện nay bị loại bỏ khỏi khung chương trình học từ năm 1986.
  • Không có bất kỳ nghiên cứu nào khẳng định tính hiệu quả của kĩ thuật “chống chết chìm” này.
  • Không có bất kỳ nghiên cứu nào khẳng định tính hiệu quả của kĩ thuật này đối với công tác phòng chống đuối nước. Cũng không có bất cứ nghiên cứu hay bằng chứng nào chỉ ra tính hiệu quả của việc tập luyện phương pháp này bằng thùng nước trong môi trường học đường.
  • Phương pháp này được không hề được sử dụng trong các chương trình giảng dạy mang tính thực chứng về giảng dạy kĩ năng bơi lội để sống sót. Thay vào đó, trẻ em được dạy cách giữ tư thế nổi khi nằm ngửa. Phương pháp “chống chết chìm” không phù hợp với các kĩ thuật thuộc chương trình giảng dạy mang tính thực chứng về về giảng dạy kĩ năng bơi lội để sống sót.

Trong khi các chương trình về giảng dạy kĩ năng bơi lội để sống sót cho trẻ em lứa tuổi tiểu học có rất nhiều bằng chứng đáng tin cậy, thì vẫn chưa có bất cứ bằng chứng hay nghiên cứu nào chứng minh cho tính xác thực của phương pháp “chống chết chìm” khi được giảng dạy trong thùng nước ở môi trường học đường. Hiện nay, các chỉ dẫn đáng tin cậy nhất về thực hành đều khuyến khích việc dạy trẻ em cách giữ tư thế nổi khi nằm ngửa, nhờ vậy đường thở sẽ luôn được thông và trẻ có thể thở bình thường. Trái ngược với những phuơng pháp được nhắc đến ở bên trên, các kĩ thuật này đã được chứng minh là có thể giảm đi nguy cơ đuối nước ở trẻ em.

Việc phương pháp “chống chết chìm” không được nghiên cứu sâu và kỹ không chỉ nói lên rằng tính hiệu quả của phương pháp này vẫn chưa được kiểm chứng một cách đầy đủ mà nó còn cho thấy rằng vẫn chưa có ai tính đến các hậu quả khó lườngcủa nó. Chúng tôi vẫn luôn lo ngại rằng, nếu như trẻ học phương pháp này chỉ với một vật dụng là cái thùng nước, thì trẻ sẽ nghĩ rằng bản thân mình đã có đủ những kĩ năng cần thiết trong các tình huống đuối nước – trong khi không có bằng chứng nào nói về vấn đề này – ngoài ra phương pháp còn khiến cho trẽ dễ dàng có những hành vi gây nguy hiểm cho chính mình ở môi trường nước.

Vì những lý do đó mà các chuyên gia hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực đảm bảo an toàn tại vùng nước không hề ủng hộ phương pháp này. Dù cho phương pháp này thời gian đầu đã được triển khai tại Hoa Kỳ, nhưng nó lại không xuất hiện các chương trình chính thống/chính thức về giảng dạy an toàn tại môi trường nước đối với lứa tuổi tiểu học – thậm chí là chính nơi mà phương pháp này được ra đời.

Trẻ em không phải là những học viên của Hải Quân. Tình huống đuối nước thực tiễn và đứng trong thùng nước là câu chuyện hoàn toàn khác nhau. Chúng tôi mong mọi người sẽ có cách triển khai các phương pháp phòng chống đuối nước, các phương pháp đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả trong việc phòng chống đuối nước ở Việt Nam.

Những thử thách trong việc thực hiện các chương trình dạy bơi

Công tác thực hiện các chương trình về dạy bơi tại Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn. Nguồn lực cho công tác phòng chống đuối nước vẫn còn rất hạn chế, và việc tìm kiếm địa điểm thích hợp để thực hiện chương trình dạy bơi để sống sót cũng rất khó khăn. Ngoài ra, nếu chỉ đơn giản là dạy bơi thì thật sự là vẫn chưa đủ. Ngoài dạy bơi ra, chương trình về giảng dạy kĩ năng bơi lội để sống sót cần phải có các nội dung về nâng cao nhận thức để đảm bảo an toàn tại môi trường nước cũng như các kĩ thuật cứu hộ an toàn.

Vì vậy, có rất nhiều tổ chức uy tín đã triển khai những chương trình về đảm bảo an toàn tại môi trường nước ở lớp học – các chương trình này dạy cho trẻ em những kiến thức quan trọng trong việc đảm bảo an toàn tại môi trường nước cũng như kĩ năng cứu hộ cùng với các nội dung thực hành rất gần gũi. Ngoài ra, tổ chức phi chính phủ Hue Help cũng đã hỗ trợ các chương trình học bơi để sống sót với chi phí thấp cho gần 10,000 trẻ em một cách an toàn tại các môi trường nước mở, giảng dạy các kĩ năng quan trọng có tính hiệu quả trong việc phòng chống đuối nước ở trẻ em – chứng minh rằng việc thực hiện chương trình dạy bơi để sống sót với chi phí thấp tại nhiều nơi ở Việt Nam là điều hoàn toàn khả thi.

Nếu quý vị có bất cứ câu hỏi nào về công tác phòng chống đuối nước ở trẻ em hay học bơi để sống sót, vui lòng liên hệ với chúng tôi! Thông qua việc chia sẻ những nội dung thực hành hữu ích và các kiến thức thực chứng mới nhất, VSLC cam kết sẽ đóng góp vào nỗ lực phòng chống đuối nước ở Việt Nam.

Nhóm tác giả:
Graham Buckley
Garry Seghers

Latest posts

Nổi để sinh tồn: Bé trai 10 tuổi cầm cự giữa biển nhờ kỹ thuật nổi người học được từ phim tài liệu

Nổi để sinh tồn: Bé trai 10 tuổi cầm cự giữa biển nhờ kỹ thuật nổi người học được từ phim tài liệu

Nếu như gặp sự cố ở dưới nước, thì việc nổi lên mặt nước và gọi người giúp chính là điều có thể cứu sống bạn. Không một ai biết rõ vấn đề này hơn Ravi Saini, một cậu bé 10 tuổi đã cầm cự hơn một giờ đồng hồ tại vùng Biển Bắc lạnh giá khi gặp phải sự cố ở dưới nước tại...

0 Comments